5 lưu ý trong quản lý và chiến lược cho ăn giúp hạn chế ảnh hưởng của biến động nhiệt độ: Giảm stress nhiệt trong chuồng đẻ

10-Th8-2026
X
XLinkedinWhatsAppTelegramTelegram
Tác giả: Brian Strobel, Sylven Blouin, Agr. và TS. Hyatt Frobose

Ảnh hưởng của stress nhiệt đối với heo nái nuôi con đã được nhiều cơ sở nghiên cứu trên thế giới đánh giá. Dù xem xét trên nái đẻ lứa đầu (lứa 1) hay nái đã đẻ nhiều lứa, kết quả ghi nhận nhìn chung khá tương đồng (Williams, 2009).

Trong bài viết này, chúng ta sẽ xem xét điều kiện nhiệt độ trong chuồng đẻ ở hai mức: 68°F (~20°C, mức mong muốn) và 77°F (~25°C, nóng). Giai đoạn cần đặc biệt chú ý đến nhiệt độ môi trường là từ khi đưa nái vào chuồng đẻ cho đến 7 ngày sau khi đẻ. Đây là giai đoạn duy nhất trong chăn nuôi heo cần duy trì hai vùng nhiệt độ khác nhau, bởi nái trưởng thành và heo con sơ sinh cùng ở trong một khu vực nhưng có nhu cầu về nhiệt độ rất khác nhau.

Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ đối với nái mang thai trong giai đoạn cận đẻ (Robbins và cs., 2019). Các nghiên cứu trên nái được nuôi theo nhóm cũng đã xác định được khoảng nhiệt độ mà nái cảm thấy thoải mái nhất.

Quản lý chăn nuôi heo trong điều kiện nắng nóng

Điều kiện tối ưu cho nái nuôi con nhằm cải thiện năng suất

Đối với nái nuôi con, hướng dẫn chung cho thấy 59–79°F (15–26°C) là khoảng nhiệt độ tối ưu, trong khi 59°F (15°C) và 90°F (32°C) lần lượt được xem là giới hạn dưới và giới hạn trên của khoảng nhiệt độ khuyến nghị (Salak-Johnson và cs., 2010). Một nghiên cứu gần đây hơn về stress nhiệt trên nái nuôi con xác định 64–68°F (18–20°C) là điều kiện trung hòa nhiệt (thermoneutral), trong khi 75–86°F (24–30°C) được xem là điều kiện stress nhiệt (Williams và cs., 2013).

Do nhiệt độ cảm nhận của nái còn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tốc độ gió, độ ẩm, kích thước cơ thể..., các mức nhiệt trên chỉ nên được xem là mốc tham khảo. Năng suất và biểu hiện hành vi của nái mới là những căn cứ quan trọng nhất để đánh giá điều kiện nhiệt có thực sự phù hợp hay không.

Hình 1. Hệ thống máng ăn GESTAL Quattro có thể kích thích nái ăn vào những thời điểm được thiết lập trong ngày, đồng thời hiển thị lượng thức ăn nái đã tiêu thụ trên màn hình và so sánh với mức mục tiêu tương ứng với lứa đẻ và ngày nuôi con của từng nái. Hệ thống này cũng có khả năng kiểm soát tiểu khí hậu dành cho heo con.

Nhiệt độ cao ảnh hưởng đến nái đẻ như thế nào?

Nái ở trong chuồng đẻ có nhiệt độ cao (77°F, tương đương 25°C) có nhịp thở tăng đáng kể, đồng thời nhiệt độ bề mặt cơ thể, nhiệt độ trực tràng và nhiệt độ bầu vú đều tăng. Nhiệt độ cao cũng làm kéo dài thời gian đẻ, từ đó có thể làm tăng tỷ lệ heo con chết lưu (Quiniou và cs., 1999).

Ngược lại, ở những nái được nuôi trong chuồng đẻ có nhiệt độ ôn hòa hơn (72°F, tương đương 22°C), các nghiên cứu ghi nhận lượng thức ăn thu nhận trong giai đoạn nuôi con tăng và khối lượng heo con khi cai sữa cao hơn (Muns và cs., 2016).

Dựa trên những kết quả này, nhiệt độ chuồng đẻ khoảng 72°F (22°C) được xem là mức tiêu chuẩn phổ biến tại châu Âu, trong khi tại Bắc Mỹ, mức nhiệt thường được áp dụng là khoảng 68°F (20°C).

Thách thức trong quản lý chăn nuôi heo

Vấn đề quan trọng ở đây là làm sao giữ ấm cho heo con mà không ảnh hưởng đến sự thoải mái, lượng thức ăn thu nhận và khả năng tiết sữa của nái. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn khá phổ biến tình trạng người chăn nuôi duy trì nhiệt độ chuồng đẻ quá cao với mục đích phòng tiêu chảy cho heo con, nhưng điều này lại làm giảm lượng thức ăn và nước uống của nái.

Để duy trì môi trường vùng úm phù hợp cho heo con, những yếu tố chính cần đảm bảo gồm không có gió lùa, có khu vực nằm nghỉ riêng biệt và nhiệt độ phù hợp.

5 lưu ý trong quản lý chuồng đẻ

Dưới đây là những biện pháp giúp cải thiện công tác quản lý chăn nuôi heo khi nhiệt độ môi trường biến động:

1. Áp dụng chiến lược cho ăn nhằm khuyến khích nái ăn nhiều hơn vào tối muộn và sáng sớm

Chiến lược này giúp khuyến khích nái đứng dậy sớm hơn và ăn nhiều hơn vào những giờ mát mẻ buổi sáng, thay vì tập trung ăn vào buổi chiều và tối khi nhiệt độ cao hơn. Kích thích nái ăn từ sớm có thể giúp tăng tổng lượng thức ăn thu nhận trong ngày, qua đó hỗ trợ tăng sản lượng sữa, giúp heo con đạt khối lượng cai sữa cao hơn và cải thiện kết quả phối giống lại của nái.

Có thể sử dụng hệ thống cho ăn tự động có thể lập trình hoặc tăng tần suất người chăm sóc xuất hiện trong chuồng để khuyến khích nái đứng dậy vào nhiều thời điểm đã định trong ngày. Việc nái đứng dậy và ăn cũng tạo thêm các cữ bú sau bữa ăn, giúp những heo con nhỏ có nhiều cơ hội tiếp cận các vú phía trước, vốn thường cho nhiều sữa hơn.

Miễn là nái có thể tự do đứng dậy theo nhu cầu, tỷ lệ chết trước cai sữa nhìn chung không bị ảnh hưởng. Leonard và cs. (2020) ghi nhận nái nuôi con thường dành khoảng 120 phút mỗi ngày ở tư thế đứng. Một trong những mục tiêu của cho ăn chính xác (precision feeding) là khuyến khích nái đứng dậy nhiều lần trong ngày, thay vì chỉ đứng trong một khoảng thời gian dài.

2. Lựa chọn hệ thống chuồng đẻ và thiết bị phù hợp

Cần kiểm tra tình trạng rò rỉ khí tại các cửa gió vào, dù chuồng sử dụng cửa gió vận hành bằng trọng lực hay cửa gió điều khiển tự động. Về nguyên tắc, luồng không khí mát có thể hướng xuống khu vực của nái, nhưng tuyệt đối phải tránh để khí lạnh thổi xuống vùng úm của heo con (Eichen và cs., 2008). Điều này càng quan trọng bởi phần lớn các trại tại Hoa Kỳ không sử dụng tấm che ngang (hover) phía trên vùng úm.

Mục tiêu là duy trì nhiệt độ khoảng 68°F (20°C) cho nái và khoảng 86°F (30°C) cho heo con. Trong chuồng đẻ, lý tưởng nhất là vùng sưởi ấm dành cho heo con có nhiệt độ phân bố đồng đều, thay vì bố trí nhiều vùng nhiệt khác nhau như trong chuồng nuôi từ cai sữa đến xuất bán (wean-to-finish).

3. Tránh để nái chịu thêm nhiệt từ thiết bị sưởi

Tấm sưởi (heat mat) có ưu điểm là tạo ra một vùng sưởi hình chữ nhật, truyền nhiệt từ dưới lên cho heo con thông qua dẫn nhiệt. Nguồn nhiệt được bố trí cách xa nái nên giúp nái duy trì mát hơn, đồng thời vị trí của tấm sưởi cũng khuyến khích heo con nằm nghỉ xa khu vực có nguy cơ bị nái đè sau khi bú.

Trong khi đó, đèn sưởi tạo ra vùng nhiệt hình tròn thông qua bức xạ nhiệt và đối lưu, với nhiệt độ cao nhất tập trung ở khu vực gần tâm của vùng chiếu. Nếu sử dụng đèn sưởi, cần bố trí sao cho nhiệt từ đèn không ảnh hưởng đến khu vực nằm của nái.

4. Khuyến khích nhân viên mặc ấm hơn

Có thể khuyến khích nhân viên mặc áo dài tay để nhiệt độ chuồng được duy trì ở mức mát hơn, phù hợp với nái. Cần tránh vận hành chuồng đẻ theo kiểu “chuồng úm nóng”, tức tăng nhiệt độ toàn bộ chuồng chỉ để đáp ứng nhu cầu giữ ấm của heo con. Không khí ấm có khả năng giữ nhiều hơi ẩm hơn, từ đó có thể làm tăng áp lực lên hệ hô hấp, đồng thời làm tăng chi phí điện năng không cần thiết.

Tuy nhiên, việc quan sát thực tế và điều chỉnh theo điều kiện của từng chuồng, từng đàn vẫn là cách tốt nhất để hạn chế stress cho cả nái và heo con, thay vì áp dụng một mức nhiệt hay một phương pháp chung cho mọi trường hợp.

5. Cho nái làm quen với chương trình cho ăn ở chuồng đẻ sớm hơn

Đặc biệt đối với các trại áp dụng hệ thống sản xuất theo lô (batch system), việc chuyển nái vào chuồng đẻ trước ngày dự kiến đẻ vài ngày giúp nái có thời gian làm quen với lịch cho ăn trong giai đoạn đẻ và nuôi con, thay vì tiếp tục theo chế độ ở giai đoạn mang thai, khi nái thường được cho ăn hạn chế một hoặc hai bữa mỗi ngày.

Đồng thời, nên cài đặt thời điểm bật đèn sưởi phù hợp trước ngày dự kiến đẻ, để vùng úm đạt điều kiện nhiệt độ cần thiết khi heo con được sinh ra.

Tài liệu tham khảo

A.M. Williams Thesis 07.15.2009. University of Missouri-Columbia. Effects of Heat Stress on Reproduction and Productivity of Primiparous Sows and Their Piglets’ Performance.

Robbins, L., A. Green-Miller, D. Lay Jr, A. Schinckel, J. Johnson, and B. Gaskill. 2019. Evaluation of sow thermal preference. Bergen, Norway; Proc. 53rd Congress of the ISAE. p. 144.

Salak-Johnson, J., J. Cassady, M. Wheeler, and A. Johnson. 2010. Guide for the Care and Use of Agricultural Animals in Research and Teaching. FASS (Federation of Animal Science Societies). 3rd edition. Pp 143-147.

Williams, A., T. Safranski, D. Spiers, P. Eichen, E. Coate, and M. Lucy. 2013. Effects of a controlled heat stress during late gestation, lactation, and after weaning on thermoregulation, metabolism, and reproduction of primiparous sows. Journal of Animal Science, Vol 91, Issue 6. Pp 2700-14.

Quiniou, N., J. Noblet. 1999. Influence of High Ambient Temperatures on Performance of Multiparous Lactating Sows. Journal of Animal Science 77 (8): 2124-34.

Muns, R., M. Larsen, J. Maimkvist, and D. Soerensen. 2016. High Environmental Temperature Around Farrowing Induced Heat Stress in Crated Sows. Journal of Animal Science. 2016.94:377-384.

Leonard, S.M., H. Xin, T. Brown-Brandl, B. Ramirez, S. Dutta, and G. Rohrer. 2020. Effects of Farrowing Stall Layout and Number of Heat Lamps on Sow and Piglet Production Performance. Animals 2020, 10, 348.

Eichen, P.A., M.C. Lucy, T.J. Safranski, E.A. Coate, A.M. Williams, and D.E. Spiers. 2008. Heat Stress Effects on Sow Reproductive Performance Using Simulated Forced Air and Evaporative Cooling Systems, pp 773-339 in Livestock Environment VIII. ASABE Pub #701P0408.

X
XLinkedinWhatsAppTelegramTelegram
ThíchBình luậnMục yêu thích của tôi

Liên hệ:

Liên hệ với chúng tôi bằng biểu mẫu sau.